Bản đồ
Portal Game - FPT Online

EmailPrint

Lịch sử các loại máy chơi game cầm tay

1979 là năm đánh dấu sự ra đời của chiếc máy chơi game cầm tay đầu tiên. Từ đó đến nay, hàng loạt sản phẩm loại này đã được ra đời và Nintendo tỏ ra là hãng gặt hái thành công vững chắc nhất trong lĩnh vực này. Những console có công nghệ cao không hẳn đã thu được thành công trên thương trường. Thay vào đó là những sản phẩm phù hợp với túi tiền và thị hiếu của người sử dụng.

Chiếc máy chơi game cầm tay thực sự đầu tiên là Microvision dùng tới các băng game có thể hoán đổi, do hãng Smith Engineering thiết kế và được Milton-Bradley phát hành vào năm 1979. Do màn hình nhỏ, ít trò chơi (chỉ có 13 game), sản phẩm này chỉ trụ được 2 năm trên thị trường. Hiện nay, số máy Microvision còn hoạt động được rất hiếm. Bàn phím của máy rất dễ bị hỏng và công nghệ LCD của những năm 70 còn kém nên màn hình tinh thể lỏng trên Microvision hay bị hở và tối đen lại. Vào năm 1984, công ty Epoch của Nhật Bản phát hành chiếc Game Pocket Computer. Nhưng dù được tán dương đến đâu, chiếc máy này cuối cùng cũng chịu cảnh thất bại.

Đầu những năm 90

Những năm đầu thập kỷ 90 chứng kiến sự “tái xuất giang hồ” của các sản phẩm máy chơi game cầm tay sau vụ đổ bể của Microvision. Do các máy LCD sáng đèn hình cộng với đồ họa nhiều màu tiêu tốn năng lượng nên máy Game Boy không sáng màn hình và đồ họa đơn sắc tỏ ra ưu thế hơn. Vào thời gian này, công nghệ sạc pin chưa phát triển nên những chiếc console cao cấp như Game Gear và Atari Lynx cũng đành chấp nhận số phận hẩm hiu.

Mặc dù các loại pin sạc của các bên phát triển thứ ba đều đe dọa đến Game Boy, chúng vẫn phải xả hết điện trước khi sạc lại vì thuộc định dạng Nickel cadmium. Pin loại NiMH không yêu cầu xả hết trước khi sạc lại phải đến cuối thập kỷ 90 mới ra đời. Nhưng đến lúc đó thì Game Gear, Atari Lynx và Game Boy đời đầu đã ngừng sản xuất.

Hiện nay, do các máy chơi game cầm tay đều có pin Li-Ion với các hình thù độc quyền như Nintendo DS và Sony PSP nên khả năng hoạt động tốt hơn so với trước. Không giống các máy chơi game đã nói ở trên, GP2X có sử dụng đến pin alkaline sạc (dựa trên phản ứng của thiếc và magiê điôxit).

Game Boy của Nintendo

Chiếc Game Boy đời đầu.

Vào năm 1989, Nintendo phát hành Game Boy. Nhóm thiết kế đứng đầu là Gumpei Yokoi chịu trách nhiệm xây dựng hệ thống Game & Watch và các trò chơi cho máy NES như MetroidKid Icarus. Một số chuyên gia cho rằng màn hình đơn sắc của Game Boy quá nhỏ và khả năng xử lý không được tốt. Nhưng nhóm thiết kế lại cảm thấy rằng giá cả thấp và khả năng tiết kiệm năng lượng mới là những yếu tố quan trọng. Còn so với Microvision thì Game Boy đã tiến một bước xa.

Yokoi nhận ra rằng Game Boy cần một trò chơi điển hình để ghi dấu ấn của chiếc máy và thu hút khách hàng. Vào tháng 6/1988, Minoru Arakawa, Tổng giám đốc điều hành của Nintendo ở chi nhánh tại Mỹ, nhìn thấy trò Tetris ở một hội chợ thương mại. Nintendo đã mua bản quyền trò chơi và đưa vào bộ sản phẩm. Ngay lập tức, hệ máy trở thành một cú “hit” trên thị trường. Vào cuối năm này, có tới hơn triệu máy được bán ra và tính tới năm 1992, con số đó là 25 triệu. Máy Game Boy đời đầu (cùng với Game Boy Pocket, Game Boy Color và Game Boy Advance) là máy chơi game bán chạy nhất từ trước đến nay với hơn 190 triệu sản phẩm.

Mặc dù Game Boy là hệ máy giải trí cầm tay thành công nhất, trên thị trường vẫn có khá nhiều sản phẩm loại này. Dù có những đặc điểm công nghệ cao hơn, các sản phẩm đương thời không thể thu về lợi nhuận lớn như dòng máy đơn giản và bình dân của Nintendo.

Lynx của Atari

Vào năm 1987, hãng Epyx tạo ra sản phẩm Handy mà hai năm sau đó trở thành Lynx của Atari. Đây là chiếc máy cầm tay màn hình màu đầu tiên và cũng là chiếc máy đầu tiên sáng đèn hình được sản xuất. “Cặp mắt mèo rừng” của Atari có khả năng hỗ trợ chơi nối mạng với 17 người cùng lúc và cho phép người chơi phóng to, thu nhỏ hình ảnh. Nhà sản xuất cũng tỏ ra khá chu đáo khi cho phép người thuận tay trái xoay ngược máy để tạo ra cảm giác thoải mái.

Tuy nhiên, các tính năng này đi liền với giá cả đắt đỏ và khiến cho khách hàng đi tìm sự lựa chọn vừa túi tiền hơn. Hơn thế nữa, Lynx không dễ sử dụng, rất tốn pin và thiếu hỗ trợ của các bên phát triển thứ 3. Các yếu tố không thuận với thị trường đã dẫn đến sự thất bại của hệ máy.

Lynx của Atari.

Game Gear của Sega

Nhận thấy thành công của Game Boy, Sega cũng lao vào thiết kế một sản phẩm có thể vượt được chiếc máy này về chất lượng hình ảnh. Họ phát hành Game Gear vào cuối năm 1990 và có màn hình màu sáng đèn. Cấu trúc bên trong của Game Gear cũng khá giống với máy SMS nên hãng có thể phát hành rất nhiều trò chơi đã từng viết cho hệ console cũ. Tuy nhiên, Game Gear cũng có những điểm hạn chế như Lynx và dù có bán được nhiều hơn (10 triệu máy), công cụ chơi game này vẫn không thể gây ảnh hưởng gì đến sự thống trị của Game Boy.

TurboExpress của NEC

TurboExpress là phiên bản cầm tay của TurboGrafx, được phát hành năm 1990 với giá 249,99 USD (con số này sau đó tăng đến 299,99 USD rồi mau chóng giảm xuống 249,99 USD và đến năm 1992 còn 199,99 USD). Phiên bản tương ứng được bán ở Nhật có tên PC Engine GT.

Đây là hệ máy cầm tay tiên tiến nhất của thời kỳ này và có thể chơi tất cả các game của TurboGrafx-16. Với màn hình 2,6 inch (giống Game Boy đời đầu) và hiển thị 64 sprite một lúc, TurboExpress có RAM 64 KB, chạy song song hai CPU 6820 với tốc độ 3,58 MHz.

Dụng cụ chỉnh Turbo Vision tùy chọn, bao gồm đầu vào audio/video RCA, cho phép người dùng có thể sử dụng TurboExpress như một màn hình video. Còn TurboLink cho phép hai người chơi một lúc, ví dụ như trong game mô phỏng lái máy bay Falcon. Tuy nhiên, rất ít game TurboGrafx-16 hỗ trợ chế độ chơi phối hợp, nhất là dành cho TurboExpress.

Neo Geo Pocket của SNK

Neo Geo Pocket là hệ máy cầm tay đời đầu của SNK, được phát hành ở Nhật vào cuối năm 1998, nhưng đến năm 1999 đã bị ngừng sản xuất. Sản phẩm này chỉ được bán ở thị trường Nhật Bản và Hong Kong. Dù có tuổi thọ ngắn, Neo Geo Pocket vẫn nhận được một số game như Samurai ShodownKing of Fighters R-1.

Cuối thập kỷ 90

Game Boy Color

Vào năm 1998, Game Boy Color đã được phát hành. Với màn hình màu toàn bộ và khả năng tương thích ngược, hệ máy mới có thể chơi các game tiêu chuẩn dành cho dòng Game Boy. Vào thời gian này, do không có sự phát triển đáng kể nào cho dòng sản phẩm của Nintendo, các đối thủ như Neo Geo Pocket Color và Wonderswan Color đã gặt hái được thành công kha khá.

Chiếc máy này có vi xử lý nhanh gấp hai lần Game Boy và bộ nhớ cũng gấp đôi. Game Boy Color có một cổng liên lạc hồng ngoại để kết nối không dây (đặc điểm này không xuất hiện trong các phiên bản đời đầu của Game Boy).

Neo Geo Pocket Color

Chiếc máy ctheo công nghệ 16 bit này cũng được phát hành vào năm 1998 ở Nhật Bản. Vào năm 2000, khi Aruze (Nhật Bản) mua lại SNK, Neo Geo Pocket Color bị “hất cẳng” khỏi thị trường Mỹ và châu Âu. Số hàng tồn đọng được SNK mua lại để đóng hàng bán cho châu Á. Và đến năm 2003, chiếc máy “tái xuất giang hồ” trên thị trường châu Á và Mỹ. Hộp sản phẩm được bán với giá 75 USD, gồm 8 trò chơi.

Neo Geo Pocket Color có vẻ đặt được thành công cả trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, một số yếu tố đã làm tổn hại đến sản phẩm này, ví dụ như thiếu trò chơi của các bên phát triển thứ 3, đóng gói bằng hộp carton (dù tiết kiệm chi phí nhưng không bắt mắt bằng hộp nhựa cứng rất được ưa thích hồi đó).

Neo Geo Pocket rực rỡ của SNK.

WonderSwan Color

Đây là sản phẩm do hãng Bandai thiết kế, được phát hành trên thị trường Nhật Bản vào ngày 30/12/2000 và gặt hái được thành công đáng kể. So với bản WonderSwan đời đầu chỉ có màn hình đen trắng, hệ máy mới có màn hình màu LCD lớn hơn, RAM 512 KB và có khả năng tương thích ngược.

Trước khi WonderSwan được phát hành, Nintendo hầu như là kẻ độc quyền trên thị trường máy chơi game cầm tay Nhật Bản. Còn khi WonderSwan Color xuất hiện, Bandai đã giành được 8% thị phần do giá cả máy rẻ hơn (65 USD).

Lý do thành công khác cho WonderSwan là Bandai đã ký được hợp đồng với Squaresoft để phát triển game Final Fantasy trên máy Famicom đời đầu cho sản phẩm của mình, với chất lượng đồ họa và cơ chế điều khiển cải tiến hơn. Tuy nhiên, với sự phổ biến của Game Boy Advance, mối quan hệ gắn kết giữa Squaresoft và Nintendo, WonderSwan Color và “hậu bối” Swan Crystal mau chóng mất đi lợi thế cạnh tranh của mình.

Những năm 2000

Dòng Game Boy Advance

Vào năm 2001, Nintendo công bố Game Boy Advance (GBA) với hai nút vai, màn hình lớn và khả năng xử lý mạnh hơn. Hai năm sau đó, thiết kế máy đã được đẩy đi một bước xa hơn với nắp đóng, mở ở phiên bản Game Boy Advance SP. Điểm khác biệt của máy là màn hình LCD màu được chiếu sáng ở nguồn ngoài (frontlight, trong khi các loại máy khác được chiếu sáng bằng nguồn trong – backlight). GBA có rất nhiều trò chơi, đáng chú ý nhất là Final Fantasy: Crystal Chronicles, Sonic Adventure 2: BattleThe Legend of Zelda: The Wind Waker. Tính đến năm 2005, dòng sản phẩm này có 3 mẫu là Game Boy Advance, Game Boy Advance SP, Game Boy Micro với số lượng bán ra đạt 70,04 triệu sản phẩm.

Gamepark 32

GP32 được công ty Gamepark (Hàn Quốc) phát hành năm 2001, chỉ vài tháng sau khi GBA xuất hiện trên thương trường. Với CPU 32 bit, vi xử lý tốc độ 133 MHz, máy cho phép chơi MP3 và Divx, đọc sách điện tử, và tất nhiên là chơi game. Đến năm 2003, máy được thiết kế lại. Màn hình chiếu sáng bằng nguồn ngoài cũng được thêm vào và do đó có tên GP32 FLU (Front Light Unit). Mùa hè 2004, một thiết kế khác cũng được tung ra và lần này thay bằng màn hình chiếu sáng từ nguồn trong.

GP32.

N-Gage

Năm 2003 chứng kiến sự ra mắt của N-Gage của hãng điện thoại di động Nokia. Chiếc máy này tích hợp nhiều chức năng như nghe MP3, radio, chơi game và quản lý như một PDA. Sau đó, N-Gage QD với thiết kế khác. Tuy nhiên, tính hữu dụng về mặt thiết kế của nó lại đánh đổi bằng sự ra đi của những đặc điểm hay trong N-Gage đời đầu như tua lại khi nghe MP3, bắt sóng FM và kết nối USB.

Zodiac

Vào năm 2004, Tapwave phát hành Zodiac. Đây là thiết bị lai giữa một máy chơi game và chiếc PDA cầm tay. Zodiac hỗ trợ đọc ảnh, xem phim, nghe nhạc, kết nối Internet và xử lý các văn bản. Phần cứng của Palm OS 5 cũng tương thích với hệ máy này. Tuy vậy, đến tháng 7/2005, Zodiac đã bị ngừng sản xuất.

DS

Đến tháng 11/2004, Nintendo tiếp tục phát hành loại máy màn hình LCD đôi mang tên DS (Dual Screen). Máy này có một màn hình cảm ứng phía dưới và có khả năng kết nối không dây với các thiết bị khác. Chính hai màn hình này đã mang lại cho giới game thủ những trải nghiệm tuyệt vời mà chưa có hệ máy nào có được.

Chỉ trong vòng 1 năm, họ đã bán ra được 14 triệu máy DS trên toàn thế giới và hiện tại được coi là đối thủ mạnh nhất trong làng điện tử cầm tay.

Vào tháng 1/2006, hãng tiếp tục công bố bản mới của DS là DS Lite (phát hành ngày 2/3/2006), nhỏ hơn 40% và nhje hơn 20% so với bản cũ, cùng thiết kế tao nhã hơn và độ sáng có thể tinh chỉnh được.

Chơi game trên Nintendo DS.

PSP

Sản phẩm PSP của Sony được tiết lộ lần đầu tiên ở Hội chợ game E3 2004 và ra mắt thị trường Nhật cuối năm 2004, đến Mỹ đầu năm 2005. PSP có sức mạnh xử lý và chất lượng màn hình tốt hơn các đối thủ còn lại nhưng yếu hơn về tuổi thọ pin, độ bền, giá cả cao hơn. Tuy vậy, các tính năng của PSP thực sự choáng ngợp như xem phim, nghe nhạc, duyệt web.

Tính đến nay, dù mạnh hơn DS nhưng PSP vẫn chưa có khả năng “trên cơ” vì thiếu phần mềm hỗ trợ và lượng máy bán ra kém hơn. Nhưng dù sao, “cuộc chiến” vẫn chưa kết thúc.

Gizmondo

Gizmondo của Tiger “xuất quân” ở Anh vào tháng 2/2005, ở Mỹ hồi tháng 10/2005. Chiếc máy này được thiết kế để chơi nhạc, xem phim và chơi game. Gizmondo có một camera để chụp và lưu ảnh, đồng thời thêm các tính năng kết nối Internet. Thời gian tới, hãng sản xuất sẽ tích hợp chức năng điện thoại vào máy để gửi văn bản, đa phương tiện, e-mail và voice được truyền qua bộ tai nghe Bluetooth.

Gizmondo.

GP2X

Được phát hành tháng 11/2005, GP2X của Gamepark sử dụng hệ điều hành Linux và hỗ trợ video, nhạc, ảnh và game trong một cấu trúc mở, cho phép bất kỳ người sử dụng nào cũng phát triển được phần mềm cho thiết bị. Người dùng còn có thể “lên đời” được máy như thêm các định dạng media, hệ điều hành, tính năng mới… bằng chương trình cơ sở (firmware) flash có thể nâng cao.

GP2X hỗ trợ các định dạng như MP3, DivX, XviD và Ogg Vorbis. Nhưng do thiết kế trên mã nguồn mở nên người sử dụng có thể dễ dàng thêm vào những định dạng mà máy chưa hỗ trợ. Người ta còn có thể dùng máy để chơi các game trên nhiều nền khác nhau, thậm chí cả NES, SMS, PC Engine, SNES và Sega Genesis.

Hệ thống các loại máy cầm tay trong lịch sử game

Tên máy Hãng sản xuất Năm phát
hành
 

Hình ảnh

Microvision Milton Bradley 1979
Game Pocket Computer Epoch 1984  
Game Boy Nintendo 1989  
Lynx Atari 1989  
TurboExpress NEC 1990  
Game Gear Sega 1991  
Supervision Watara 1992  
Mega Jet Sega 1992  
Virtual Boy Nintendo 1994  
Nomad Sega 1995  
Neo Geo Pocket SNK 1996  
Game Boy Pocket Nintendo 1996  
game.com Tiger 1997  
Game Boy Color Nintendo 1998  
Cybiko 1998  
Neo Geo Pocket Color SNK 1999  
WonderSwan Bandai 1999  
WonderSwan Color Bandai 2000  
GP32 Game Park 2001  
Game Boy Advance Nintendo 2001  
Swan Crystal Bandai 2002  
N-Gage Nokia 2003  
Game Boy Advance SP Nintendo 2003  
Gameking Timetop 2003  
Zodiac Tapwave 2004  
N-Gage QD Nokia 2004  
DS Nintendo 2004  
PSP Sony 2004  
Gizmondo Tiger 2005  
Game Boy Micro Nintendo 2005  
GP2X Game Park 2005  
V-Smile Pocket V-Tech 2005  
Ez MINI Shanda 2005  
 DS Lite  Nintendo  2006  


Thiên Bình
Còn nữa 

Thứ tư, 29/04/2009, 16:00 GMT +7
Những chuyện chỉ có ở NPH game Việt
Những mỹ nhân làng game