Lịch sử game (Phần 10): 'Thống lĩnh' PlayStation thời 32/64 bit
PlayStation được phát hành lần đầu tiên ở Nhật Bản vào ngày 3/12/1994, ở Mỹ ngày 9/9/1995 và ở châu Âu ngày 29/9/1995. Tại miền đất màu mỡ của Bắc Mỹ, Sony đã gặt hái được thành công rất lớn cùng với những đầu mục trò chơi như Toshinden, Twisted Metal, Warhawk và Ridge Racer.
|
| PlayStation của Sony. |
Dòng máy này rất được ưa chuộng và tạo nên “thế hệ PlayStation”. Các game nổi tiếng được phát triển là Tomb Raider, Final Fantasy, Resident Evil, Tekken, wipEout, Gran Turismo, Crash Bandicoot, Spyro và Metal Gear Solid. Tính từ 18/5/2004 đến nay, Sony đã xuất xưởng được 100 triệu máy PlayStation ra khắp nơi trên thế giới. Họ cũng đạt được 7.300 đầu mục trò chơi, bán được 949 triệu bộ sản phẩm phần mềm kể từ tháng 3/2004.
Trước đó, Nintendo và Sony đã hợp tác để sản xuất máy chơi có đầu CD-ROM nhưng cuối cùng lại không thành công và dính vào vụ kiện tụng vi phạm hợp đồng. Tại tòa án liên bang Mỹ, Nintendo phản đối việc phát hành PlayStation vì thương hiệu đó đáng ra thuộc về họ (tên sản phẩm CD-ROM). Nhưng cuối cùng thì bồi thẩm đoàn đã bác đơn kiện của Nintendo.
![]() |
![]() |
| Bộ điều khiển nguyên thủy của PS, lấy cảm hứng từ tay cầm trên Super Nintendo. | Bộ điều khiển DualShock (có khả năng rung trong các pha hành động), thay thế chiếc tay cầm nguyên thủy. |
Máy PlayStation ban đầu thường được viết tắt là PSX, mã sản phẩm trong quá trình phát triển. Đến năm 2003, cái tên này bị bỏ đi do một loại máy mới có tên chính thức là PSX cũng được Sony tung ra thị trường (đây chính là PS2 nâng cấp với đầu DVD, một ổ cứng và máy quay video kỹ thuật số). Hiện tại, sản phẩm trở nên quen thuộc trong giới chơi game với cái tên PS1 hay PSOne hay đơn giản là PS, mặc dù nhiều người vẫn gọi đó với cái tên PSX.
PS có một bản khác gọi là Net Yaroze, đắt hơn, có màu đen và điều quan trọng nhất là có các công cụ và hướng dẫn cho phép người chơi có thể lập trình cho các game và ứng dụng của PS mà không cần đến bộ công cụ đầy đủ của các nhà phát triển (do đó đắt hơn nhiều lần so với PS). Tuy nhiên, Net Yaroze thiếu nhiều tính năng mà bộ công cụ này cung cấp. Điểm khác biệt là loại máy này là sản phẩm duy nhất mà Sony chính thức không cài đặt mã vùng và do đó có thể chơi ở bất kỳ đâu.
|
| Net Yaroze. |
Một bản khác có màu xanh và dung lượng RAM tăng gấp đôi (4 MB so với 2MB trong bản PS màu xám thông thường). Đồng thời, thiết bị giả lập CD-ROM của máy còn có khả năng kết nối với PC. Chỉ có một số ít được bán ra thị trường thông qua các kênh không rõ ràng và với giả cả cắt cổ (700 USD, so với giá 230 USD của PS).
Việc lắp đặt lậu chip chỉnh sửa cho máy (modchip) đã khiến cho mã vùng trên PS bị gỡ bỏ và do đó các bản game ở nước này có thể chơi được trên máy ở nước kia. Modchip này cho phép chơi game được sao trên ổ CD bình thường nên đã tạo ra một làn sóng các đầu mục trò chơi được phát triển mà không có sự chấp thuận của Sony và sử dụng các công cụ biên soạn chương trình GNU (GNU's Not Unix) miễn phí.
|
| Máy PlayStation có màn hình tinh thể lỏng LCD và tay điều khiển DualShock. |
Các đặc tính kỹ thuật của máy bao gồm:
Chip 32 bit RISC chạy với tốc độ 33,8688 MHz. Sản phẩm do công ty LSI Logic sản xuất với giấy phép công nghệ từ phía SGI. Thiết bị này chứa cơ chế chuyển đổi hình học và cơ chế giải nén dữ liệu.
Cơ chế chuyển đổi hình học: Cơ chế này nằm trên chip CPU chính và hỗ trợ nhiều thuật toán được dùng để tạo đồ họa 3D. Các đặc điểm chính: Thực hiện 66 triệu phép tính/giây; 360.000 đa giác phẳng/giây; 180.000 đa giác có nguồn sáng và ánh xạ/giây.
![]() |
![]() |
| Thẻ nhớ của Play Station. | Motherboard của PlayStation. |
Cơ chế giải nén dữ liệu: Cơ chế này cũng nằm trong chip CPU chính và làm nhiệm vụ giải nén các hình ảnh và video. Chức năng của thiết bị là đọc 3 khối macro cỡ 16x16 được mã hóa bằng chương trình nén dữ liệu RLE (Run Lengh Engine), chạy chương trình iDCT (inverse Discrete Cosine Transformation) và thiết lập một khối macro mã màu RGB (red green blue) đơn 16x16. Dữ liệu đầu ra có thể được chuyển đổi trực tiếp đến GPU thông qua kết nối bộ nhớ trực tiếp DMA (direct memory access). Cơ chế này có thể viết đè lên ma trận iDCT và một số tham biến khác. Các tính năng: tương thích với các file MPEG-1 và H.261; thực hiện 80 phép tính/giây; kết nối trực tiếp với cổng bus của CPU.
Vi xử lý đồ họa tách rời khỏi CPU và "chịu trách nhiệm" cho quá trình xử lý đồ họa 2D, bao gồm những đa giác chuyển sang 3D. Một số đặc tính kỹ thuật: tối đa 16,7 triệu màu, độ phân giải từ 256x224 đến 640×480, hỗ trợ đến tối đa 4000 sprite kích thước 8x8 pixel, mỗi sprite có co giãn tỷ lệ và xoay hướng riêng...
Vi xử lý âm thanh có một số đặc điểm: hỗ trợ các nhạc cụ MIDI, thực hiện được những hiệu ứng số hóa như thay đổi âm vực, hồi âm, lặp âm..., hỗ trợ định dạng .psf.
Bộ nhớ RAM chính 2MB, RAM video 1MB, RAM âm thanh 512 KB, bộ nhớ đệm CD-ROM 32 KB, ROM cho hệ điều hành 512 KB, thẻ nhớ 128 KB.
Ổ CD-ROM mới đầu chỉ có một tốc độ, sau đó được thay thế bằng ổ hai tốc độ, trong đó dữ liệu được truyền tối đa là 300 KB/s.
Thiên Bình
Còn nữa