Lịch sử game (Phần 6): Những đấu sỹ 'hạng gà' trong thời kỳ 8 bit
Thời kỳ 8 bit còn chứng kiến nhiều dòng sản phẩm khác nữa, ngoài các tên tuổi đã được nhắc đến trong phần trước là Famicom và NES của hãng Nintendo. Những loại máy chơi game này đều được đầu tư công sức rất lớn, nhưng duyên may, thiên thời, địa lợi, nhân hòa… của mỗi dòng mỗi khác.
Sega Master System (SMS)
|
| Sega Master System. |
Đây là một sản phẩm nữa của Nhật Bản – hãng Sega. Dòng máy chơi game 8 bit SG-1000 Mark III đã được Sega phát hành từ 20/10/1985. Cho đến khi SMS xuất hiện trên đất Mỹ vào tháng 9/1986, một năm sau khi NES được Nintendo tung ra, thì tên tuổi của Sega mới được chú ý. Giá của máy lúc đó là 200 USD.
Mặc dù SMS về mặt kỹ thuật nhỉnh hơn NES ở một vài điểm, dòng máy này vẫn không vượt qua được sản phẩm của Nintendo về khả năng vươn xa trong thị trường. Nguyên nhân chủ yếu là các đầu trò chơi khác nhau cho các nền máy và sự chậm chân của họ khi tiếp cận khách hàng. Thỏa thuận cấp phép mà Nintendo ký với các nhà phát triển bên thứ 3 đã gây tác động đến tình hình kinh doanh của Sega vì những nhà phát triển này chỉ sản xuất game dành riêng cho máy NES. Trong khi Sega chỉ bán được 125.000 máy thì Nintendo đã bán được 2 triệu máy trong 4 tháng đầu sau khi phát hành.
Vào thời gian này, Nintendo đã ung dung ngồi hưởng đến 90% thị phần Bắc Mỹ. Hayou Nakayama, lúc đó là Tổng giám đốc điều hành của Sega, quyết định không đầu tư vào thị trường đã bị NES thao túng. Vào năm 1988, quyền sản xuất SMS ở Bắc Mỹ đã được bán cho Tonka, nhưng danh tiếng của loại máy này tiếp tục đi xuống. Động thái này bị đánh giá là rất tệ, do Tonka chưa bao giờ bán được máy chơi game nào trên thị trường và chẳng biết làm gì với nó.
Cho đến năm 1992, việc bán SMS hầu như không tồn tại trên đất Mỹ và do đó việc sản xuất bị ngừng lại. Tại Nhật, SMS cũng gặp phải cảnh bi đát như vậy do Famicom đã thống lĩnh thị trường.
Còn tại châu Âu, tình hình có vẻ suôn sẻ hơn đối với SMS do Nintendo không mặn mà lắm với thị trường này. SMS đã thành công ở Đức khi được công ty Ariolasoft phân phối vào mùa đông năm 1987. Người châu Âu đã ủng hộ rất nhiệt tình cho SMS và kết quả là dòng máy này đã bán được nhiều hơn so với NES. Nintendo buộc phải cấp giấy phép cho các công ty phát triển một số đầu trò chơi SMS phổ biến trên thị trường. Loại máy chơi game này tiếp tục được ủng hộ cho đến năm 1996, khi Sega dừng sản xuất để tập trung vào dòng máy mới Sega Saturn.
Có lẽ ở các thị trường mà Nintendo chưa để mắt tới, SMS đã có cơ phát triển, trong đó Brazil là thị trường thành công nhất của SMS. Phiên bản thứ 3 của SMS và cả bản 4 cũng được tung vào đây, đồng thời một số trò chơi cũng được dịch ra tiếng Bồ Đào Nha để phù hợp với người Brazil, các nhân vật trong đó cũng được thay đổi để hấp dẫn khách hàng hơn, ví dụ như nhân vật truyện tranh Mônica nổi tiếng của lớp trẻ Brazil.
Nói chung, SMS đã đạt được kết quả khá trên toàn cầu nhưng không thể “bon chen” vào thị trường Mỹ và Nhật Bản. Từ bài học này, sau đó họ đã sản xuất ra Sega Mega Drive theo công nghệ 16 bit rất được ưa chuộng ở châu Âu và Brazil, cũng như phiên bản Genesis ở Mỹ để tạo ra thế cạnh tranh với NES của Nintendo.
Atari 7800
|
| Atari 7800. |
Dòng máy này được thiết kế để thay thế phiên bản 5200 còn nhiều thiếu sót và tái lập vị thế của hãng Atari trên thị trường. Với loại máy này, họ đã khắc phục được nhược điểm của dòng 5200, dùng cần điều khiển đơn giản, có thể tích hợp được với Atari 2600, đồng thời giá cả cũng phải chăng (lúc khởi điểm là 140 USD).
7800 là máy chơi game đầu tiên của Atari được một công ty khác là GCC thiết kế. Máy có đầy đủ các thiết bị ngoại vi của một máy tính như bàn phím và một cổng mở rộng để nối thêm với ổ đĩa hoặc máy in. GCC trước đó đã từng thiết kế RAM chạy bằng pin dùng để lưu điểm số trong game. Nhưng Atari đã không sản xuất bất kỳ thiết bị ngoại vi nào, và sau khi loạt hàng đầu tiên xuất xưởng, họ cũng bỏ luôn cả cổng mở rộng.
Dòng máy này được đưa vào thử nghiệm trên thị trường miền nam California vào tháng 6/1984. Ngay một tháng sau đó, hãng truyền thông Warner đã bán Atari cho Jack Tramiel, người cho rằng mốt chơi game video đã lỗi thời. Ông bỏ mọi dự án liên quan đến lĩnh vực này và quyết định tập trung vào dòng máy tính hiện có của Atari để thiết kế loạt sản phẩm công nghệ 16 bit. Nhưng sau đó 7800 được giới thiệu lại vào mùa đông năm 1986 sau thành công của máy NES, một minh chứng cho thấy thị trường trò chơi video vẫn đang đầy sức sống.
Khả năng “ưu việt” của thế hệ 7800 vẫn đang là đề tài tranh cãi cho đến tận ngày nay. Về bản chất, cấu trúc máy là một Atari 2600 với bộ xử lý trung tâm CPU khá hơn, chip đồ họa Maria tiên tiến hơn. Mặc dù hệ máy này có thể di chuyển nhiều đối tượng trên màn hình (con số này lên đến 100), hơn bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào, khả năng âm thanh của 7800 thực sự kém. Để bù lại, một số trò chơi (đáng chú ý là các cổng từ dòng máy tính Atari 400/800), bao gồm một chip âm thanh Pokey trong băng game. Với 7800 thì các nhà lập trình khó làm việc hơn so với bất kỳ hệ máy nào có trên thị trường lúc bấy giờ.
Atari đã vấp phải “cơn khát” phần mềm khá nghiêm trọng. Con số trò chơi ít ỏi mà hãng phát hành không được chú ý cho lắm và thiếu nhiều tính năng. Và Atari hoàn toàn không có nỗ lực nào trong việc liên kết với các đối tác phát triển bên thứ ba, ngoài một số ít đầu trò chơi từ các hãng Absolute, Activision và Froggo.
GX4000 của Amstrad
|
| GX4000 mới ra đã "chết". |
Đây là sản phẩm “đoản thọ” của hãng Amstrad trong thị trường máy chơi game. Loại máy này được phát hành vào năm 1990 và dựa trên công nghệ máy tính CPC 8 bit của hãng. Tính năng của máy khá tốt với đồ họa và âm thanh ấn tượng, bảng màu 4096 (còn nhiều hơn Mega Drive 16 bit của Sega). Băng game GX4000 có thể được sử dụng với máy tính 464 và 6128.
Tuy nhiên, GX4000 lại là một trong những thất bại thê thảm nhất trong lịch sử máy chơi game. Có thể một phần là do công nghệ 8 bit thời điểm này đã bị công nghệ 16 bit “qua mặt” với Megadive của Sega (phát hành vào tháng 11/1990) và SNES của Nintendo. Hơn thế nữa, phần mềm cho máy rất hạn chế, phát hành chậm hoặc bị ngừng phát triển. Tình hình càng tồi tệ hơn khi các game này được đưa vào loại băng game với giá 40 USD trong khi khách hàng có thể mua một băng cassette với giá 7 USD mà thôi. Cần nói thêm ở đây là “băng game” (cartridge) là từ gọi chung trong tiếng Việt để chỉ thiết bị chứa chương trình trò chơi video nhưng thực ra trong đó chứa các vi mạch điện tử; còn băng cassettee là băng quay bình thường.
Nói chung, GX4000 với số phận hẩm hiu chỉ nhận được chưa đầy 40 trò chơi, trong đó chỉ có một nửa được thiết kế dành riêng cho máy. Chỉ sau vài tháng đưa ra thị trường, loại máy này đã bị “chết yểu”.
Hệ máy cầm tay thời 8 bit
|
| Các thế hệ Game Boy. |
Ngoài thành công với Famicom và NES, Nintendo còn tung ra thiết bị giải trí cầm tay mang màu sắc "phân biệt giới" Game Boy và được bán rất chạy trên thị trường. Máy cầm tay này được phát hành đầu tiên vào ngày 21/4/1989 ở Nhật Bản và vào tháng 8/1989 ở Mỹ. Dựa trên vi xử lý Z80, máy có màu đen và xanh, màn hình tinh thể lỏng LCD và bộ phím 8 hướng.
Tuy nhiên, máy Lynx (mèo rừng) của Atari, máy chơi game cầm tay duy nhất mà hãng sản xuất, lại là máy đầu tiên thuộc dòng này có màn hình màu.
Atari Lynx có một số tính năng sáng tạo mới, trong đó có cấu hình chuyển đổi được cho những người thuận tay phải và trái, khả năng kết nối mạng lên đến 17 nút thông qua hệ thống ComLynx (mặc dù phần lớn các game cho phép tối đa 8 nút kết nối). “Chú mèo rừng” này cũng làmáy chơi game video đầu tiên có hỗ trợ phần cứng để quan sát gần xa hoặc “bóp méo” hình ảnh, đồng thời cho phép chạy các trò “giả” 3D với chất lượng không gì sánh được vào thời điểm đó.
|
| "Mèo rừng" của Atari. |
Loại máy này được hãng Epyx phát triển với cái tên Handy và hoàn thành vào năm 1987. Đúng thời điểm này Atari mua lại bản quyền sản phẩm và đồng thời thay đổi loa trong, bỏ đi bàn phím điều khiển “thô kệch” rồi phát hành máy 2 năm sau đó với giá ban đầu là 189,95 USD.
Vào năm 1991, Atari tiếp tục đưa phiên bản Lynx II ra thị trường với mẫu mã mới, phần cứng được cải thiện hơn, màn hình sáng hơn.
Mặc dù công nghệ tốt hơn so với Game Boy, “con át chủ bài” của Nintendo, Lynx cần nhiều pin hơn (6 pin so với 4 pin của Game Boy). Nhưng máy này có kích thước lớn hơn mức cần thiết, CPU mạnh hơn nên tiêu thụ nhiều năng lượng hơn (6 pin AA chỉ trong vòng 4 giờ chơi liên tục;đối với Lynx II thì trong 5 đến 6 giờ). Và một điều không thể phủ nhận là Game Boy đã vượt xa Lynx trên thị trường.
Thiên Bình
Còn nữa