Lịch sử game (Phần 5): Dấu ấn Famicom trong thời kỳ 8 bit

Thời kỳ 8 bit là giai đoạn phát triển thứ 3 của máy chơi game video chuyên dụng. Sau vụ tụt dốc năm 1983, đây được coi là giai đoạn "hiện đại" đầu tiên của game trên console. Mặc dù thế hệ máy trước đó đã sử dụng các vi xử lý 8 bit, nhưng đến thời gian này mới được "dán mác".

Dòng máy này trở thành "thời thượng" cho đến khi các hệ máy 16 bit ra đời, chen chân vào thị trường và thể hiện sự khác biệt của mình (như TurboGrafx 16).

Trong thời kỳ này, các loại máy chơi game của Nhật Bản đã bắt đầu nổi lên chiếm lĩnh thị trường, nổi bật nhất là Famicom và NES của hãng Nintendo. Dòng sản phẩm này đã gặt hái thành công vang dội và được coi là "Đấng cứu thế" cho ngành game video sau vụ khủng hoảng 1983.

"Anh em" Famicom, NES - niềm tự hào của gia đình Nintendo

Máy Famicom.

Vào năm 1983, doanh nhân Yamauchi quyết định thử nghiệm trên thị trường game video Nhật Bản loại máy chơi trong gia đình, viết tắt là Famicom. Sản phẩm được phát hành đúng dịp Giáng sinh với giá 99,99 USD. Trước đó, do muốn giảm giá chỉ còn 79,99 USD nên ông đã dùng các linh kiện rẻ tiền. Chính điều này đã khiến cho máy bị trục trặc và Yamauchi phải thu hồi lại toàn bộ số hàng đó bằng tiền túi của chính mình. Nhà sản xuất đầy trách nhiệm này đã quyết định rằng danh tiếng của Nintendo còn quan trọng hơn tiền bạc. Và chính mưu tính lâu dài này đã mang đến thành công cho hãng.

Vào tháng 6/1985, Nintendo tiếp tục công bố phiên bản mới của Famicom với cái tên NES (máy giải trí gia đình) trên đất Mỹ tại Triển lãm hàng điện tử dân dụng và được người dân nước này đón nhận rất nhiệt tình. Trong những năm cuối thập kỷ 80, Nintendo đã trở thành kẻ thống lĩnh không thể tranh cãi trên thị trường game của Mỹ và Nhật Bản với số lượng máy bán ra mang tính kỷ lục. Cho đến năm 1990, NES đã trở thành sản phẩm đắt hàng nhất trong lịch sử game video.

"Lò nướng" NES.

Famicom và NES về cơ bản là giống nhau, ngoại trừ một số khác biệt sau:

- Thiết kế bên ngoài. Famicom có khe cắm ở trên thân máy, do đó các băng video phải cắm dựng đứng; còn NES có khe cắm ở ngay đằng trước nên nhiều người gọi vui là "lò nướng bánh". Màu sắc của Famicom là đỏ và trắng còn NES được phối màu xám, đen và đỏ.

- Chân cắm. Dòng sản phẩm đầu tiên chỉ có 60 chân cắm còn NES thì có tới 72 chân và do đó có kích thước lớn hơn. 12 chân cắm thêm vào là dành cho chip bảo mật. Mới đầu, nhiều băng trò chơi dùng trên máy Famicom có thể gắn kèm một nắn dòng để nhét vừa vào khe của máy NES.

- Bo mạch bảo mật. Do Famicom không có phần cứng bảo mật nên những băng game chưa được cấp phép (cả hợp pháp lẫn hàng lậu) đều rất phổ biến trên thị trường Mỹ và Nhật Bản. Để khắc phục tình trạng đó, máy NES đã có thêm chip bảo mật mang mã hiệu 10NES và thách thức những kẻ làm hàng lậu.

- Bộ điều khiển. Thiết kế ban đầu của Famicom bao gồm các bộ điều khiển cố định. Ngoài ra, bộ điều khiển trong phiên bản thứ hai còn có thêm microphone để dùng cho một số trò chơi nào đó.

Bộ tay cầm của Famicom.

Bộ điều khiển dùng cho Famicom và máy NES đều có kiểu dáng “cục gạch” với 5 nút bấm đơn giản: Hai nút đỏ có tên A và B, 1 nút Start, một nút Select và các phím mũi tên lên, xuống, sáng trái phải tạo thành hình chữ thập (gọi là D-pad) do kỹ sư Gunpei Yokoi thiết kế để thay thế cần điều khiển (joystick) cồng kềnh mà các máy chơi game trước đó sử dụng.

Mô hình Famicom nguyên thủy có hai bộ điều khiển, cả hai đều được gắn cố định vào mặt sau của máy. Bộ điều khiển thứ hai không có nút Start và Select nhưng lại có một microphone nhỏ. Tuy nhiên, khá ít trò chơi tận dụng chức năng này. Đến đời NES thì không dùng đến điều khiển cố định nữa, thay vào đó là hai cổng 7 chân cắm tùy chọn được nối vào mặt trước của máy. Khác với Famicom, các bộ điều khiển trong NES lại giống nhau – thiết bị thứ hai không có microphone mà có nút Start và Select.

Thiết bị điều khiển của NES.

Có rất nhiều bộ tay cầm đặc biệt được thiết kế để sử dụng với từng game cụ thể dành cho máy nhưng lại tỏ ra khá "vô tích sự", ví dụ như NES Zapper (súng ánh sáng), Power Glove (găng tay sức mạnh). Famicom nguyên mẫu có cổng mở rộng DB-15 ở mặt trước để kết nối với các thiết bị bổ trợ. Còn trên máy NES thì những bộ điều khiển đặc biệt này được kết nối với một trong hai cổng ở mặt trước của máy.

Đến gần giai đoạn cuối trong thời kỳ hoàng kim của NES, khi AV Famicom được phát hành, thiết kế của bộ điều khiển game mới được chỉnh sửa đôi chút. Dù các nút về cơ bản vẫn được giữ nguyên, thiết kế của tay cầm đã bỏ đi hình dáng “cục gạch” mà thay vào đó là hình “khúc xương chó”, khiến người ta liên tưởng đến tay cầm của máy Super Nintendo (SNES) về sau này. Ngoài ra, AV Famicom và SNES còn thay bộ điều khiển cố định bằng các cổng có thể tháo rời.

"Khúc xương chó" SNES.

Một điểm chú ý là Famicom chỉ được bán trên đất Nhật và NES chỉ có trên đất Mỹ. Ở các thị trường khác, loại máy này được bán ra với số lượng rất hạn chế hoặc xuất hiện dưới dạng "hàng xách tay", "hàng nhái".

Cải tiến "rắc rối" của NES

Khi Nintendo phát hành NES ở Mỹ, mô hình máy được cố tình thiết kế khác đi so với các loại máy chơi game trước đó để tránh tình trạng mất danh tiếng như các “tấm gương tày liếp” trong vụ khủng hoảng năm 1983.

Một trong những cải tiến đó là hãng đưa khe cắm băng vào mặt trước của máy với lực ấn mạnh (zero insert force, viết tắt là ZIF). Tuy nhiên, do không thử nghiệm kỹ càng trước khi phát hành nên sự cố đã xảy ra: nút báo điện màu đỏ bị nhấp nháy. Khe cắm băng của NES chỉ hoạt động tốt khi phần chân cắm và băng game trong tình trạng sạch sẽ và các chân cắm phải mới.

Không may là việc tra băng, tháo băng liên tục lại làm cho các chân cắm “tã” khá nhanh và thiết kế ZIF khiến cho bụi bẩn tấn công mạnh vào khe cắm. Hơn thế nữa, chip 10NES trong phiên bản mới tỏ ra khó tính và đòi hỏi một khoảng thời gian chính xác để hệ thống nhận băng. Vì cả máy NES và băng game phần lớn là do trẻ em sử dụng nên tình trạng dính bẩn là rất thường xuyên. Điều này khiến cho chip bảo mật không thể kết nối chính xác với máy và khiến đèn LED nhấp nháy, đồng thời từ chối quá trình nhận băng.

Thường thì rắc rối này được giải quyết tạm thời bằng cách thổi bụi đi, nhưng tất nhiên “hơi ẩm” lại càng làm cho tình trạng máy trở nên tồi tệ và các băng game quá “mất vệ sinh” tiếp tục cần đến cồn để rửa. Trong nhiều trường hợp, sau một vài năm sử dụng, phần chân cắm không thể sử dụng được nữa.

Nintendo - "tham thì thâm"

Trên thị trường console lúc này, dường như Nintendo không có đối thủ. Nhưng kẻ đã nắm một thứ gì đó trong tay thì không bao giờ chịu để mất. Họ đã thống lĩnh toàn bộ thị trường này với những biện pháp "rắn".

Mác chất lượng sản phẩm của Nintendo.

Sự độc quyền gần như hoàn toàn của Nintendo trên thị trường trò chơi video đã tạo ra ảnh hưởng chi phối đối với ngành công nghiệp này, còn hơn cả Atari trong thời kỳ hoàng kim của mình đầu những năm 1980. Nhiều hoạt động kinh doanh của Nintendo trong giai đoạn này bị chỉ trích và có thể đã góp phần làm cho thị phần của hãng bị suy giảm vào đầu những năm 1990.

Nintendo đã tiên đoán và khuyến khích sự tham gia của các bên phát triển thứ ba với các điều kiện ngặt nghèo của mình. Theo đó, chip chống hàng giả đã được “cấy” vào từng máy và từng băng game được cấp phép chính thức. Nếu chip trong máy không thể nhận biết chip trên băng thì trò chơi không hoạt động. Nintendo đã kết hợp việc này với chiến dịch giới thiệu nhãn hiệu chất lượng Nintendo. Hoạt động quảng cáo này vô hình trung đã cho rằng những trò chơi được dán mác là tốt và tất nhiên, game không có mác này là tồi.

Chính điều này đã làm cho các nhà phát triển game buộc phải trả một khoản phí đăng ký cho Nintendo và mua bộ công cụ phát triển từ hãng. Nintendo đã kiểm tra và sản xuất tất cả các game tại cơ sở của mình, nắm quyền định giá và kiểm duyệt những băng game mà họ cho là không thể chấp nhận được; đồng thời quyết định số lượng băng game mà họ sẽ sản xuất; ra giới hạn các trò chơi mà một nhà phát hành tung ra trong khoảng thời gian nào đó (5 đầu trò chơi/ năm). Chính giới hạn “quota” này đã khiến một số hãng lập thêm chi nhánh để phá vỡ chính sách của Nintendo.

Cách làm này có mục đích là không chỉ kiểm soát chặt chẽ các nhà phát triển mà còn nhằm điều khiển thị trường. Năm 1988, Nintendo bắt đầu bố trí một “cơn sốt” khan hàng để kích cầu. Giám đốc phụ trách quan hệ công chúng (PR) của Nintendo tại Mỹ, Peter Main, đã từ chối tất cả đơn đặt hàng của những đại lý bán lẻ. Rất nhiều cửa hàng trong số đó thu phần lớn lợi nhuận từ việc bán phần cứng và phần mềm của Nintendo nhưng họ chẳng thể làm gì được. Trong năm này, hơn 33 triệu băng game NES được bán trên thị trường Mỹ nhưng ước tính nhu cầu thực tế là 45 triệu. Do Nintendo quản lý toàn bộ việc sản xuất băng game nên họ có thể áp đặt quy định này lên các nhà phát triển bên thứ ba. Chính sự hạn chế sản xuất đó đã khiến cho các công ty loại nhỏ không còn đất sống vì dù nhu cầu thị trường có cao đến đâu, họ vẫn chỉ nhận được lợi nhuận như vụn bánh mỳ từ “hạn ngạch” ít ỏi mà Nintendo phân bổ.

Tình hình đã khiến một số công ty buộc phải sản xuất các trò chơi không được cấp phép hoặc từ chối trả phí bản quyền, hoặc tự sản xuất băng game sau khi Nintendo từ chối yêu cầu của họ. Nhiều công ty đã “sáng tạo” ra những bo mạch có dùng chân điện áp để phá hỏng chip bảo mật dùng trong máy NES. Atari thì sản xuất ra một loạt sản

NES 2 đã bỏ chip 10NES.
phẩm NES dưới cái tên Tengen và áp dụng chiêu bài khác: họ đã lấy được bản mô hình chip bảo mật của NES từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ bằng cách giả vờ nói rằng họ cần minh chứng để chống lại sự vi phạm bản quyền trong một vụ kiện. Sau đó hãng này đã dùng các tài liệu đó để thiết kế chip Rabbit (con thỏ) giống y hệt các chức năng của 10NES. Thế là Nintendo quay ra kiện Tengen vì hành động này và tất nhiên, Tengen thua do đã sử dụng trái phép sáng kiến của Nintendo. Còn lời buộc tội độc quyền của Tengen đối với Nintendo thì chưa bao giờ được phán quyết.

Cho đến đầu những năm 1990, khi dòng máy Genesis của Sega gặt hái được thành công thì Nintendo thực sự gặp phải đối thủ thực sự và buộc lòng phải đánh giá lại thái độ đối với các nhà phát triển. Nhưng phần nhiều trong số đó đã “đánh hơi’ được các hệ máy mới. Khi Nintendo phát hành NES 2 thì chip 10NES đã được bỏ đi, chấm dứt thời kỳ thống trị “độc tài” đối với các nhà phát triển thứ 3.

Thiên Bình

Còn nữa

 
Thứ tư, 29/04/2009, 16:00 GMT +7