Lịch sử game (Phần 2): Bước đi chập chững đầu tiên
Giai đoạn bắt đầu phát triển của ngành game được đánh dấu từ năm 1971 đến 1977. Sau những trò chơi đơn giản và mà chúng ta đã biết đến ở phần trước, game được gọi là một ngành công nghiệp khi không còn là thú vui thiết kế đơn thuần và giải trí ban đầu để vươn ra thị trường.
Cơn sốt máy chơi game thùng đầu tiên
![]() |
| Chiếc máy thùng chơi bằng tiền xu dành cho game Computer Space. |
Vào năm 1971, kỹ sư người Mỹ Nolan Bushnell và Ted Dabney đã sáng tạo ra loại máy thùng (arcade) dùng tiền xu để vận hành (tiếng Việt gọi nôm na là "điện tử xèng") dành cho game Spacewar (nhưng ông gọi game này là Computer Space). Hãng Nutting Associates đã mua lại trò chơi này, đồng thời thuê Bushnell làm việc cho họ. Kết quả là họ đã sản xuất được 1.500 máy chơi Computer Space. Trong game này, người chơi điều khiển một con tàu phóng rocket và phải tránh hoả lực của kẻ thù phóng ra từ hai chiếc đĩa bay có dùng hai nút xoay chiều. Bạn có thể phá huỷ đĩa bay bằng cách bắn tên lửa vào chúng với 4 nút điều khiển.
Tuy nhiên, game không gặt hái được nhiều thành công vì nhiều người thấy khó chơi. Computer Space rất thu hút sinh viên trong các trường đại học nhưng lại không phổ biến ở các quán bar và các điểm đặt máy khác.
Vì không cảm thấy được các nhà sản xuất đền đáp xứng đáng với trò chơi này, sau đó Bushnell đã tự thành lập công ty cho riêng mình, đặt tên là Atari, vào năm 1972. Cùng năm này, ông đã thiết kế game đánh bóng bàn có tên là Pong rất dễ chơi. Đây chính là game video dành cho máy thùng đầu tiên giành được thành công lớn vì dựa vào cách chơi đánh bóng đơn giản: hai người chơi điều khiển hai cái "nút xoay" có khả năng di chuyển lên xuống tự do ở mỗi đầu bàn bóng để đưa bóng qua lưới.
![]() |
![]() |
| Trò chơi Pong nhìn từ trên xuống. | Bộ điều khiển cho trò chơi Pong. |
Quả bóng tự động được tung ra ở giữa bàn và khi nó di chuyển về phía bàn bên kia thì người chơi phải điều khiển "vợt" của mình để đánh bóng trả lại đối phương. Công ty Atari đã bán được 19.000 máy chơi Pong và chẳng bao lâu sau những trò "nhái lại" xuất hiện nhan nhản. "Cơn sốt" chơi game trên máy thùng đã bắt đầu.
Game trên dòng máy tính CDC và DEC
Việc phát triển game trên hệ máy tính lớn trong các trường đại học cũng tăng tốc trong những năm 70, mặc dù các nhà thiết kế game thời kỳ này coi đó là một thú vui chứ không phải công việc kinh doanh. Vào thời kỳ này có ít nhất hai mạng lưới phân phối lớn cho các nhà thiết kế game sinh viên. Một là hệ thống Plato do công ty Kiểm soát dữ liệu (CDC) hỗ trợ và vận hành trên các máy trạm CDC. Plato này là hệ thống đầu tiên kết hợp đồ hoạ và màn hình cảm ứng để đào tạo kỹ năng tương tác. Hai là hệ thống chia sẻ phần mềm DECUS do công ty Thiết bị kỹ thuật số (DEC) điều hành cho các trường, học viện có sử dụng máy tính DEC như dòng PDP-10.
Các hoạt động của ngành game vào đầu những năm 70 diễn ra độc lập và song song trên hai hệ thống riêng biệt này do bất kỳ một trường nào ở Mỹ cũng tiếp cận với một loại phần cứng và một nhà cung cấp game chia sẻ (game mà người sử dụng có thể copy cho nhau).
Dưới đây là những sự kiện nổi bật trong thời kỳ này:
Năm 1971, Don Daglow viết trò chơi bóng chày đầu tiên cho máy tính trên nền PDP-10 khi còn là sinh viên tại trường đại học Pomona. Người chơi có thể tham gia các trận đấu riêng lẻ hoặc chơi cả mùa giải. Daglow tiếp tục phối hợp với nhà lập trình Eddie Dombrower để thiết kế Earl Weaver Baseball mà sau này hãng Electronic Arts phát hành vào năm 1987. Đây cũng là game thương mại đầu tiên mô tả toàn bộ mùa giải. Daglow cũng viết một trong những trò chơi Star Trek rất phổ biến cho máy tính PDP-10 trong năm 71 và 72.
Trong năm 1972, Gregory Yob đã thiết kế trò chơi trốn tìm Hunt the Wumpus cho PDP-10, mặc dù nó có thể được coi là game phiêu lưu "bằng chữ" đầu tiên. Yob đã viết trò chơi này để "trả lời" các game trốn tìm đã có như Hurkle, Mugwump, and Snark.
Năm 1975, Will Crowther viết game phiêu lưu "bằng chữ" đầu tiên có tên Adventure (mới đầu là Advent, sau đổi thành Colossal Cave), trên máy PDP-10 bằng ngôn ngữ Fortran. Người chơi điều khiển game thông qua những "mệnh lệnh" dưới dạng một câu đơn giản và nhận được kết quả cũng bằng chữ. Một điều thú vị là tác giả trò chơi chính là một nhà thám hiểm hang động rất mê mải và thiết kế của game này được lấy cảm hứng từ hệ thống hang Mammoth ở Kentucky, bang miền Nam nước Mỹ. Dù đã từng có tên Colossal Cave nhưng game lại là một sự tái tạo trung thành hệ thống hang Bedquilt gần đó. Sự tái tạo này thật đến nỗi những nhà thám hiểm hang động dày dạn kinh nghiệm từng chơi game này nhưng trước đó chưa bao giờ đến Bedquilt đã có thể tìm đường quanh các khu vực quan trọng của hang này ngoài đời thực.
Vào năm 1976, Daglow, lúc đó là một sinh viên tại trường đại học Claremont Graduate, đã viết trò chơi thể loại nhập vai đầu tiên dành cho máy tính PDP-10 có tên gọi Dungeon. Game mô tả những chuyến đi của một nhóm người phải băng qua khu tù ngục đầy quái vật. Người chơi chọn những hành động để tham gia vào cuộc chiến và nơi di chuyển nhân vật trong nhóm. (Tất nhiên, tốc độ của game chậm chạp hơn rất nhiều so với hiện nay). Các nhân vật giành điểm kinh nghiệm và kỹ năng khi level của họ lên cao. Mặc dù game chơi hoàn toàn với "chữ", đây chính là trò chơi đầu tiên có sử dụng những "đường nét đồ hoạ". "Đồ hoạ" trong Dungeon bao gồm những bản đồ ngục thất với góc nhìn từ trên xuống dưới để thể hiện các khu vực chơi, ánh sáng và bóng tối, các loại yêu tinh và quỷ lùn khác nhau.
Cải tiến này có thể áp dụng được do những game trước đó thường chơi trên máy điện báo hay máy in kim với tốc độ từ 10 đến 30 ký tự/ giây. Đến giữa những năm 70 thì nhiều thiết bị đầu cuối cho máy tính ở các trường đại học đã chuyển sang màn hình CRT để có tốc độ xử lý văn bản cao hơn.
Cũng trong giai đoạn này, trò chơi nhập vai dnd (viết tắt của Dungeon and Dragons) lần đầu tiên xuất hiện trên hệ máy tính Plato của CDC ở các trường đại học khác.
Trò chơi Zork, được phát hành lần đầu tiên vào năm 1977, được Dave Lebling, Marc Blank, Tim Anderson và Bruce Daniels thiết kế. Không giống những nhà thiết kế game thời "sơ khai" khác, đội ngũ làm game Zork đã nhận ra tiềm năng trong việc đưa những trò chơi này vào các loại máy tính cá nhân mới và cơ hội thu lợi nhuận từ đó. Đồng thời họ thành lập hãng phát hành game phiêu lưu Infocom vào năm 1979. Công ty này có một danh sách dài các game phiêu lưu "bằng chữ" được ưa chuộng nhất cho đến khi bị các trò chơi phiêu lưu đồ hoạ "qua mặt" vào giữa những năm 1980, rồi sau đó phải trao quyền sở hữu vào tay Activision.
Năm 1976 là năm thế giới chứng kiến trò chơi bạo lực đầu tiên: Death Race của Exidy. Game này đã gây ra nhiều tranh cãi do những "sinh vật giả tưởng" bị xe đè lên trông giống những người khách bộ hành hơn. Đây chính là điểm khởi đầu cho những tranh cãi về game bạo lực và dường như chủ đề này chưa bao giờ chấm dứt.
Máy chơi game video gia đình đầu tiên
Vào năm 1972, máy chơi game video chuyên dụng (console) lần đầu tiên được phát hành dành cho thị trường giải trí gia đình với cái tên ấn tượng là Magnavox Odyssey. Được thiết kế bằng cách dùng công nghệ điện tử mô phỏng (analog), thiết bị này chính là sản phẩm mà Ralph Baer phát triển lên từ thiết bị ông chế tạo năm 1968 và được nối với tivi.
|
| Magnavox Odyssey. |
Tất nhiên, không giống như những máy console hiện nay, Odyssey được chạy bằng pin và thiếu mất chức năng tạo âm thanh. Nhưng dù sao, những chiếc máy "câm lặng" như vậy cũng là bình thường ở giai đoạn này.
Odyssey dùng một kiểu bảng mạch điện có thể tháo rời để nối với khe cắm giống như khe ổ đĩa; nó không chứa chương trình nào cả mà chỉ thay đổi đường dẫn tín hiệu trong máy để thay đổi "đầu ra" trên màn hình ti vi. Do ti vi thời đó màu sắc còn hạn chế nên để phân biệt cho rõ, thiết bị còn đi kèm với các miếng plastic đặc biệt gọi là overlay được đặt trước màn hình để mô phỏng màu sắc. Ngoài ra, nó còn có thêm các đồng xu chơi game bằng nhựa và tấm bảng điểm để lưu điểm số.
Tuy vậy, Odyssey không mang lại thành công lớn vì nhiều người tưởng rằng thiết bị này chỉ dùng được với ti vi Magnavox của Ralph Baer. Nhưng thành công của sản phẩm này là khả năng hỗ trợ thiết bị ngoại vi "Súng ánh sáng". Khẩu súng có thể phát hiện ra các điểm sáng từ màn hình ti vi để "bắn" trúng đích.
Máy chơi game cầm tay sơ khai
Trò chơi điện tử cho máy cầm tay đầu tiên trên thế giới là Tic Tac Toe, được công ty Waco sản xuất năm 1972. Phần thể hiện game là một bảng gồm 9 nút có thể chuyển sang màu đỏ hoặc xanh khi được bấm vào. Máy chơi game cầm tay đầu tiên là Microvision do Smith Engineering thiết kế và được hãng Milton-Bradley bán ra thị trường vào năm 1979. Tuy vậy, do được thể hiện trên màn hình LCD nhỏ và dễ hỏng, ít game nên loại máy này chỉ đứng trên thị trường được hai năm.
![]() |
![]() |
| Trò chơi Tic Tac Toe. | Hộp sản phẩm của những năm 70. |
Tuy vậy, dù không được coi là thành công, game này vẫn là phát súng mở đầu để những máy chơi cầm tay với một game duy nhất về sau này có bước phát triển hơn. Dòng game này còn được gọi là game LED hay LCD tuỳ theo loại màn hình thể hiện.
![]() |
| Microvision. |
Đến năm 1977, trò chơi đá bóng trên màn hình LED của hãng Mattel đã tạo ra một giai đoạn vàng son ngắn ngủi của dòng game này, nhất là game thể thao. Vài giai đoạn đầu, trò chơi chỉ bao gồm một vài cách sắp xếp bóng đèn LED đơn giản nhưng sau này, với sự kết hợp công nghệ màn hình tinh thể lỏng (liquid crystal) và huỳnh quang chân không (vacuum fluorescent - VFD), các trò chơi có màu sắc sáng hơn và đồ hoạ chi tiết hơn. Thời hoàng kim của game LED và VFD chấm dứt vào đầu những năm 80, khi mà công nghệ màn hình LCD trở nên rẻ hơn và có độ bền đủ để thay thế chúng.
Thiên Bình
Còn tiếp